Kinh tế Úc

0
188

KINH TẾ

Sự yếu kém liên tục của kinh tê thế giới, sự bất ổn giá tăng do chiến tranh Iraq, cuộc khủng hoảng dịch SARS và những trận tấn công khủng bố vẫn không làm cho nền kinh tế

Úc bị suy thoái. Thêm vào đó, Úc lại vừa bị một trận hạn hán nghiêm trọng. Tuy nhiên, những con số về kinh tế rất đáng khích lệ: mức tăng trưởng GDP dự háo cho năm 2003/2004 là 3,25%, tỉ lệ thất nghiệp chỉ ở mức 6% và tỉ lệ lạm phát là 2,25%.

Lượng đầu tư nội địa vừa qua đã gia tăng, và lên đến mức 10 tỉ AUD trong ngành mỏ và sản xuất. Khu vực xây dựng nhà cửa tư nhân đã trải qua một cuộc bộc phát vào năm.

kinh tế úc

2002/03 tuy nhiên đến nay giảm trở lại. Lợi nhuận của các công ty gia tăng 10,8% trong năm vừa qua. Trong ngành mậu dịch số tiền thiếu hụt do bội chi lên đến mức 5 tỉ AUD vào cuối năm 2002. Những yếu tố góp phần vào tình trạng này là nhu cầu hàng tiêu dùng nước ngoài gia tăng, trong đó có cả việc nhập khẩu một số máy bay hành khách cho hãng Quantas, việc tăng giá của đồng Đô la Úc so với Đô la Mỹ, và việc sụt giảm đáng kể hàng nông nghiệp xuất khẩu. Mức bội chi trong cán cân chi phí là 11.6 tỷ AUD

trong quý cuối của năm 2002. Đã có những hợp đồng dài hạn quan trọng trong phân phối ga hóa lỏng được ký với Trung Quốc, Nhật và Nam Triều Tiên trong thời gian gần đây, nhưng lợi nhuận toàn bộ của dịch vụ này chỉ có thể thu được trong năm tới.

Ngày 13 tháng năm 2003, bộ trưởng tài chính của Úc đã trình với quốc hội bản ngân sách của chính phủ. Tổng chi theo ngân sách này gia tăng 7,5% so với năm trước, lên đến

178 tỉ AUD. Thu nhập từ thuế có chiều hướng cao hơn mức chính phủ dự đoán gần đây. Điểm đáng chú ý là nợ nhà nước đã được kiểm soát ở mức 30 tỉ AUD, chỉ chiếm mức 3,7% của GDP, rất xa dưới mức bình quân của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECP). Mức nợ bên ngoài khoảng 354 tỉ AUD, chiếm khoảng 50% GDP.

Lãi suất cơ bản được duy trì ở mức 4,75% kể từ tháng 6 năm 2002. Việc giảm giá của đồng Đô la Mỹ có nghĩa là đồng Đô la Úc đạt đến mức cao kỷ lục là 0,66 AUD/USD vào cuối tháng 5 năm 2003. Tỉ giá hối đoái giữa đồng Đô la Úc và đồng Euro vẫn giữ ở mức không đổi là 1 AUD = 0,56 EUR.

Nền kinh tế của Úc có khu vực dịch vụ chiếm phần quan trọng, đã tạo ra khoảng hai phần ba lượng GDP, trong đó có mậu dịch, một ngành mà bốn phần năm số việc làm lệ thuộc vào đó. Việc sản xuất công nghiệp chiếm 14,5% của GDP, xây dựng chiếm 6,7%, nghề mỏ chiếm 4,2%, nông nghiệp chiếm 3,6%, và điện, ga và nước chiếm 1,7%. Trong nhiều năm qua Úc đã nỗ lực đa dạng hóa nền kinh tế của mình. Đất nước này có một thị trường tài chính phát triển rất mạnh. Hy vọng đang đặt ở những “nền kinh tế mới”, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và kỹ thuật y sinh viễn thông và thương mại điện tử.

Những mặt hàng xuất khẩu chính của Úc là than, quặng mỏ, dầu thô và khí thiên nhiên, kim loại, thịt và cá, vải sợi, ngũ cốc và các sản phẩm từ ngũ cốc, vàng, ô tô, sản phẩm từ sữa, và rượu vang. Than là mặt hàng đơn độc mà Úc xuất khẩu nhiều nhất, Úc đã là nhà xuất khẩu lớn nhất trên thế giới về chất antraxit kể từ giữa thập niên 1980. Sự gia tăng to lớn về lượng ô tô xuất khẩu cũng là điểm đáng được đề cập. Những mặt hàng nhập khẩu chính là các loại xe và máy móc, các sản phẩm xăng dầu, các thiết bị xử lý dữ liệu điện tử và công nghệ viễn thông.

Những đối tác mậu dịch chính của Úc là những quốc gia ở Đông và Nam Á, Mỹ và khối EU. Những đối tác lớn để Úc xuất khẩu là Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, Nam Triều Tiên, New Zealand, Vương quốc Anh, Singapore, Đài Loan, Indonesia, Malaysia, và Thái Lan. Những mặt hàng nhập khẩu của Úc đến từ Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Đức, Vương quốc Anh, New Zealand, Nam Triều Tiên, Indonesia, Singapore, Malaysia và Đài Loan. Khu vực Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương vẫn tiếp tục là thị trường chính của Úc với tổng giá trị xuất khẩu là 87,4 tỉ AUD và giá trị nhập khẩu là 83,8 tỉ AUD. Úc đã tiến hành 70% các cuộc mậu dịch với các nước trong khối APEC.

Lĩnh vực sinh lợi nhiều nhất trong khu vực dịch vụ là du lịch và sinh viên nước ngoài. Trong quý 2 của năm 2002 đất nước này có số bội chi về ngoại thương là 1,3 tỉ AUD. Bội chi trong cán cân chi phó là 22,2 tỉ AUD trong năm tài chính 2001/2002.

Úc là một thành viên của OECD, WTO, IMF, Ngân hàng Thế giới, IAEA và APEC. Nước này đã đóng vai trò tích cực trong WTO. Úc đã hỗ trợ cho cuộc họp thương lượng về mậu dịch trong hội nghị các bộ trưởng ngoại thương vào tháng 11 năm 2001 tại Doha, Qatar, và là một đơn vị đề xướng có uy tín cho việc bãi bỏ chế độ bao cấp nông nghiệp.

Thỏa thuận Mậu dịch về Các Quan hệ Kinh tế Úc – New Zealand (CER) là căn bản cho việc mậu dịch tự do được thiết lập với New Zealand. Chính phủ đã tự đặt ra mục tiêu ký kết các thỏa thuận mậu dịch tự do song phương với những đối tác mậu dịch quan trọng ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương để bổ sung cho những nỗ lực tự do hóa ở cấp toàn cầu (WTO) và cấp khu vực (APEC). Một thỏa thuận về mậu dịch tự do đã được ký với Singapore ngày 17 tháng 2 năm 2003, và một thỏa thuận khác đang được thương lượng với Mỹ.

Nền kinh tế của Úc đã phải chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của những sự suy yếu trên thế giới trong vòng vài năm vừa qua. Điều này thể hiện rõ ràng nhất ở lĩnh vực xuất khẩu. Vào giữa năm 2003, tổng lượng xuất khẩu thấp hơn 2% so với giữa năm 2000. Lượng xuất khẩu này trong thập kỷ 1990 đã gia tăng bình quân mỗi năm 7%. Những nguyên nhân tác động đến tình trạng này có trận hạn hán của Úc đã làm lượng xuất khẩu hàng nông nghiệp bị giảm sút, sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 và tình hình dịch SARS làm ảnh hưởng đến các hoạt động du lịch.